Trong kinh Trường A-hàm có kể rằng: Thuở Phật còn tại thế, Ngài nhìn thấy những hoa sen hoặc đã có nụ, hoặc gần nở, hoặc nở tròn, Ngài liền nói: “Tất cả hoa sen nở ra tròn trịa thơm tho, đều phát xuất từ bùn sình hôi hám”. Chúng ta cũng thấy rõ có đoá hoa sen nào nở ở chỗ sạch không? Hoa sen nào cũng phát xuất từ bùn nhơ rồi từ từ vượt ra khỏi bùn, khỏi nước để sau đó trổ hoa thơm ngát. Hoa trổ rồi và hoa chưa trổ đều như nhau, mầm sen cũng phát xuất từ bùn.
Ðức Phật dụ bùn như ngũ dục, tất cả chúng ta sanh ra trong ngũ dục. Nhưng nếu đắm chìm mãi trong ấy thì mình không cất đầu lên nổi, không thoát ra được nên gọi là chìm. Nếu khéo vượt ra khỏi vũng bùn ngũ dục, lần lần chúng ta sẽ trong sạch, tiếp tục vươn lên khỏi mặt nước, rồi sẽ trổ hoa. Ðức Phật cũng vậy, trước kia sanh trong cung vua Tịnh Phạn, từ nhỏ cho tới lớn Ngài thụ hưởng ngũ dục rất nhiều, cũng có vợ con. Nhưng sau đó thức tỉnh, Ngài bỏ tất cả vượt thành xuất gia tìm đạo. Nghĩa là Ngài cũng từ bùn ngũ dục thức tỉnh vượt ra mới giác ngộ được tất cả các Pháp mà chứng đạo vậy. Đây là một trong ba hình ảnh thí dụ mà Kinh Pháp Hoa đã nói đến đó là Dụ Thuyết Châu.
Tất cả chúng ta cũng thế, ở trong ngũ dục nếu khéo thức tỉnh vượt ra, tu hành có ngày cũng ngộ đạo như Phật chứ không khác. Ðức Phật nói rằng: “Ta là Phật đã thành, còn các ngươi là Phật sẽ thành”. Tất cả chúng ta cũng là người sẽ thành Phật. Cho nên cái nhìn của đức Phật là cái nhìn bình đẳng tột cùng. Với con mắt chúng sanh, Phật và chúng ta cách xa muôn dặm, nhưng với con mắt (Từ nhãn thị chúng sanh) của Phật, thì chúng sanh và Phật chỉ cách nhau có một niệm phân biệt mà thôi.
Lại nữa trong phẩm Dược Thảo Dụ của Kinh Pháp Hoa cũng có đoạn Đức Phật nói như sau: “Ca-Diếp! Thí như trong cõi tam-thiên đại-thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam-thiên đại-thiên đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm, cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ, hoặc thứ gốc chỉ vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn”.
Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng trung hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.
Phật lại nói: “Ca-Diếp nên biết! Đức Như-Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, A-tu-la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam-thiên đại-thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời nầy: “Ta là đấng Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn thời làm cho chứng Niết-bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc nhứt-thiết-trí, bậc nhứt-thiết-kiến, là bậc tri đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, A-tu-la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy”.
Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Như-Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sanh nầy nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo.Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng.
Đức Như-Lai nói pháp một tướng một vị, nghĩa là: Tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc "nhứt-thiết-chủng-trí". Có chúng sanh nào nghe pháp của Như-Lai hoặc thọ trì đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Những lời trên đây là được trích trong Phẩm Dược Thảo Dụ của Kinh Pháp Hoa.
Phật nói rằng: “Nước trong bốn biển chỉ thuần một vị, đó là vị mặn, giáo Pháp của ta cũng vậy chỉ có một vị, đó là vị giải thoát khỏi khổ đau sanh tử luân hồi”
Mặc dù trước lúc Đạo Phật có mặt ở đất nước này, Ấn Độ đã có hiện diện gần một trăm tôn giáo đang ngự trị và phát triển rất thịnh hành. Tuy nhiên các tôn giáo kể trên đều xây dựng giáo lý của mình dựa trên một đấng Thượng Đế hay một thần linh hữu ngã nào đó để thiết lập một đường hướng cho tín đồ tu theo.
Dù rằng Đạo Phật đã thoát ra khỏi cảnh cố chấp vào đấng quyền năng hữu ngã nói trên, nhưng vì Đạo Phật là Đạo nhập thế nên tính chất tồn tại lâu dài cũng không ra ngoài sự thăng trầm sinh diệt, vô thường, hợp tan mà bị diệt vong trên chính mảnh đất này. Thời gian Phật giáo vắng mặt trên đất nước này cũng khá là dài, rồi mãi cho đến những thế kỷ sau này khi các nhà khảo cổ học ở phương Tây tìm kiếm khai quật vài trụ đá mà ngày xưa Vua A Dục đã dựng lên với mục đích là kỷ niệm các sự kiện cũng như những Thánh tích mà Đức Phật lúc còn tại thế đã hiện diện nơi đó. Từ đó Đạo Phật lại hồi sinh như những cánh rừng bị thiêu hủy, sau một trận mưa lớn các gốc cây kia lại đâm chồi nảy lộc ra cành lá mới.
Do vậy mà khi xưa Tất Đạt Đa còn là một Đông Cung Thái Tử, Ngài đã du ngoạn ra bốn cửa thành rồi dần dần nhìn thấy sự bất công của muôn loài tranh nhau từng phút giây để sống và tồn tại. Có lẽ câu nói sau đây nó ra đời từ phút giây này thì phải hơn: “Không có một giai cấp nào trong dòng máu cùng đỏ, không có một giai cấp nào trong nước mắt cùng mặn”.
Dần dà sau này khi Thái tử đi xuất gia học đạo và chứng ngộ Thánh quả thành Phật rồi, nhân một ngày nọ tại đỉnh Linh Thứu sơn (núi Kỳ Xà Quật), thuộc thành Vương Xá, cùng chúng đại Tỷ kheo mười hai ngàn vị, toàn là những bậc A La Hán cùng với chúng đại Bồ tát có tám mươi ngàn, toàn là những vị không thoái chuyển đối với tuệ giác vô thượng. Trong hội chúng này cũng có Chư Thiên và những vị trời Đế Thích cùng hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc.
“Linh sơn hoa lá còn xanh
Pháp Hoa Diệu Pháp an lành thế gian”
Hai câu thơ lục bát trên đã gói trọn thâm tình giải thoát, đồng thời cũng là lòng từ bi vô lượng cùng với sự thương tưởng của Đức Phật đến với tất cả chúng sanh đang phải chịu đau khổ trong nhà lửa tam giới, vì say mê dục lạc; mà tham ái là đầu mối làm ràng buộc bản tâm y nguyên sáng suốt vốn có trong mỗi chúng sanh.
Mỗi khi chúng ta ngồi đọc, tụng cũng như lắng tâm của mình để suy gẫm lại những lời dạy quý báu của Ngài trong Kinh Tạng nói riêng và trong Luật, Luận nói chung. Chúng ta luôn bắt gặp một nét đẹp chân thật chứa đựng tính chất từ bi, bình đẳng trong Kinh Pháp Hoa mà khi xưa Đức Phật đã giảng thuyết suốt trong thời gian bốn năm ròng rã. Và từ đó cánh cửa của thế giới bình đẳng được mở rộng ra với hai mươi tám phẩm trong Kinh.
Có thể nói rằng khi nào trên bàn tay của chúng ta mà mình nhìn thấy giữa các ngón tay không bằng nhau thì lúc đó tính chất bình đẳng trong cuộc sống chưa được gọi là tuyệt đối, nhưng trên phương diện về ngôn ngữ thì con người luôn có một cảm tưởng rằng dường như chúng ta đang hưởng lấy sự bình đẳng. Ở đây điểm quan trọng hơn hết và được xây dựng thành một nền móng vững chắc cho nội tâm vẫn là cách suy tư và hành động của chính bản thân mình.
Đức Phật ra đời là muốn phá bỏ hết những khoảng cách ở cái nhìn của con mắt đầy tính bất công và sự phân chia giai cấp nơi con người. Ngài muốn chỉ cho tất cả chúng sanh dù là vô tình hay hữu tình chúng sanh đi nữa cũng đều có Phật tánh như sau, chỉ vì do nghiệp lực sâu dày nên có sự thọ quả không đồng nhất; vì thế mà hình tướng của mỗi loài cũng khác đi. Tính chất bình đẳng này nếu mà chúng ta xét rộng ra thì nó đang bàn bạc khắp mọi nơi từ cá nhân cho đến tập thể xã hội, quốc gia hay toàn thế giới và tất cả muôn loài chúng sanh. Nhưng nếu xét ở điểm tột cùng của tinh thần thì tâm thức cũng là điều dẫn tới sự bất bình đẳng trong phân biệt cá nhân nhận thức và lẫn cả mọi người mọi loài sống ở xung quanh ta.
Chúng ta nói cho cùng thì cũng nằm trên ngôn ngữ và kiến thức sai lạc của tầm nhìn nhận thức của trí tuệ thế gian mà thôi, để hiểu hết tính chất bình đẳng luôn chứa đựng lòng từ bi sáng suốt của Ngài vậy Đức Thế Tôn đã tóm thâu tính bình đẳng chân thật này qua phương tiện ngôn ngữ bằng bài kệ sau:
Pháp Vương phá các cõi
Hiện ra trong thế gian
Theo tánh của chúng sanh
Dùng các cách nói pháp
Đức Như-Lai tôn trọng
Trí huệ rất sâu xa
Lâu giữ pháp yếu này
Chẳng vội liền nói ra
Người trí nếu được nghe
Thời có thể tin hiểu,
Kẻ không trí nghi hối
Thời bèn là mất hẳn.
Ca-Diếp! Vì cớ đó
Theo sức chúng nói pháp
Dùng các món nhân duyên
Cho chúng được chánh kiến
Ca-Diếp! ông nên biết
Thí như vừng mây lớn
Nổi lên trong thế gian
Che trùm khắp tất cả
Mây trí huệ chứa nhuần
Chớp nhoáng sáng chói lòa
Tiếng sấm xa vang động
Khiến mọi loài vui đẹp
Nhậït quang bị che khuất
Trên mặt đất mát mẻ
Mây mù sa bủa gần
Dường có thể nắm tới.
Trận mưa đó khắp cùng
Bốn phương đều xối xuống
Dòng nước tuôn vô lượng
Cõi đất đều rút đầy
Nơi núi sông hang hiểm
Chỗ rậm rợp sanh ra
Những cây cối cỏ thuốc
Các thứ cây lớn nhỏ
Trăm giống lúa mộng mạ
Các thứ mía cùng nho
Nhờ nước mưa đượm nhuần
Thảy đều tươi tốt cả.
Đất khô khắp được rưới
Thuốc cây đều sum sê
Vừng mây kia mưa xuống
Nước mưa thuần một vị
Mà cỏ cây lùm rừng
Tất cả các giống cây
Hạng thượng trung cùng hạ
Xứng theo tánh lớn nhỏ
Đều được sanh trưởng cả.
Gốc thân nhánh và lá
Trổ bông trái sắc vàng
Một trận mưa rưới đến
Cây cỏ đều thấm mướt
Theo thể tướng của nó
Tánh loại chia lớn nhỏ
Nước đượm nhuần vẫn một
Mà đều được sum sê.
5. Đức Phật cũng như thế
Hiện ra nơi trong đời
Ví như vầng mây lớn
Che trùm khắp tất cả
Đã hiện ra trong đời
Bèn vì các chúng sanh
Phân biệt diễn nói bày
Nghĩa thật của các pháp
Đấng Đại-Thánh Thế-Tôn
Ở trong hàng trời người
Nơi tất cả chúng hội
Mà tuyên nói lời nầy:
Ta là bậc Như-Lai
Là đấng Lưỡng-Túc-Tôn (5)
Hiện ra nơi trong đời
Dường như vầng mây lớn
Thấm nhuần khắp tất cả
Những chúng sanh khô khao
Đều làm cho lìa khổ
Được an ổn vui sướng
Hưởng sự vui thế gian
Cùng sự vui Niết-bàn.
Các chúng trời người nầy
Một lòng khéo lóng nghe
Đều nên đến cả đây
Ra mắt đấng vô thượng.
Ta là đấng Thế-Tôn
Không có ai bằng được
Muốn an ổn chúng sanh
Nên hiện ra trong đời
Vì các đại chúng nói
Pháp cam lồ trong sạch
Pháp đó thuần một vị
Giải thoát Niết-bàn thôi.
Dùng một giọng tiếng mầu
Diễn xướng nghĩa nhiệm nầy
Đều thường vì Đại-thừa
Mà kết làm nhân duyên.
Ta xem tất cả chúng
Khắp đều bình đẳng cả
Không có lòng bỉ thử
Cũng không có hạn ngại
Hằng vì tất cả chúng
Mà bình đẳng nói pháp
Như khi vì một người
Lúc chúng đông cũng vậy.
Thường diễn nói pháp luôn
Từng không việc gì khác
Ngồi, đứng, hoặc đến, đi
Trọn không hề nhàm mỏi
Đầy đủ cho thế gian
Như mưa khắp thấm nhuần
Sang hèn cùng thượng hạ
Giữ giới hay phá giới
Oai nghi được đầy đủ
Và chẳng được đầy đủ
Người chánh-kiến tà-kiến
Kẻ độn căn lợi căn
Khắp rưới cho mưa pháp
Mà không chút nhàm mỏi.
Tất cả hàng chúng sanh
Được nghe pháp của ta
Tùy sức mình lãnh lấy
Trụ ở các nơi các bậïc
Hoặc là ở trời, người
Làm Chuyển-luân thánh-vương
Trời Thích, Phạm, các vua
Đó là cỏ thuốc nhỏ
Hoặc rõ pháp vô lậu
Hay chứng được Niết-bàn
Khởi sáu pháp thần thông
Và được ba món minh
Ở riêng trong núi rừng
Thường hành môn thiền định
Chứng được bậc Duyên-giác
Là cỏ thuốc bậc trung.
Hoặc cầu bực Thế-Tôn
Ta sẽ được thành Phật
Tu hành tinh tấn, định
Là cỏ thuốc bậc thượng
Lại có hàng Phật tử
Chuyên tâm nơi Phật đạo
Thường thật hành từ bi
Tự biết mình làm Phật
Quyết định không còn nghi
Gọi đó là cây nhỏ.
Hoặc an trụ thần thông
Chuyển bất thối pháp luân
Độ vô lượng muôn ức
Trăm nghìn loài chúng sanh
Bồ-Tát hạng như thế
Gọi đó là cây lớn.
Phật chỉ bình đẳng nói
Như nước mưa một vị
Theo căn tánh chúng sanh
Mà hưởng thọ không đồng
Như những cỏ cây kia
Được đượm nhuần đều khác
6. Phật dùng món dụ nầy
Để phương tiện chỉ bày
Các thứ lời lẽ hay
Đều diễn nói một pháp
Ở nơi trí huệ Phật
Như một giọt trong biển.
Ta rưới trận mưa pháp
Đầy đủ khắp thế gian
Pháp mầu thuần một vị
Tùy sức riêng tu hành,
Như thể lùm rừng kia
Và cỏ thuốc những cây
Tùy giống lớn hay nhỏ
Lần lần thêm sum suê
Pháp của các đức Phật
Thường dùng thuần một vị
Khiến cho các thế gian
Đều khắp được đầy đủ
Lần lựa siêng tu hành
Rồi đều được đạo quả.
Hàng Thanh-văn, Duyên-giác,
Ở nơi chốn núi rừng,
Trụ thân hình rốt sau
Nghe Phật Pháp được quả
Nếu các vị Bồ-Tát
Trí huệ rất vững bền
Rõ suốt cả ba cõi
Cầu được thừa tối thượng
Đó gọi là cây nhỏ
Mà được thêm lớn tốt.
Lại có vị trụ thiền
Được sức thần thông lớn
Nghe nói các pháp không
Lòng rất sanh vui mừng
Phóng vô số hào quang
Độ các loài chúng sanh
Đó gọi là cây lớn
Mà được thêm lớn tốt
Như thế, Ca-Diếp này!
Đức Phật nói pháp ra
Thí như vầng mây lớn
Dùng nước mưa một vị
Đượm nhuần nơi hoa người
Đều được kết trái cả.
Ca-Diếp ông phải biết
Ta dùng các nhân duyên
Các món thí dụ thảy
Để chỉ bày đạo Phật
Đó là ta phương tiện
Các đức Phật cũng thế
Nay ta vì các ông
Nói việc rất chân thật
Các chúng thuộc Thanh-văn
Đều chẳng phải diệt độ
Chỗ các ông tu hành
Là đạo của Bồ-Tát
Lần lần tu học xong
Thảy đều sẽ thành Phật.
Tác giả: Nẻo Xa
0 nhận xét: