• Tính Bình Đẳng Tuyệt Đối Trong Phẩm Dược Thảo Dụ Của Kinh Pháp Hoa

    Đất nước Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, chính vì thế mà nơi đây đã tồn tại một nét văn hóa rất riêng đó là sự phân chia giai cấp rất rõ rệt. Các giai cấp ở nơi đây bao gồm có bốn giai cấp chính như sau: Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Phệ Xá và Thủ Đà La. Bốn giai cấp này tồn tại một cách niên viễn hàng mấy nghìn năm qua mà không hề thay đổi, tuy rằng trải qua thời gian lâu như vậy nhưng mãi cho đến ngày nay và thậm chí sự phân chia này như đang lẩn trốn trong tiềm thức của mỗi con người dân đang sinh sống ở đất nước này.
    Trong kinh Trường A-hàm có kể rằng: Thuở Phật còn tại thế, Ngài nhìn thấy những hoa sen hoặc đã có nụ, hoặc gần nở, hoặc nở tròn, Ngài liền nói: “Tất cả hoa sen nở ra tròn trịa thơm tho, đều phát xuất từ bùn sình hôi hám”. Chúng ta cũng thấy rõ có đoá hoa sen nào nở ở chỗ sạch không? Hoa sen nào cũng phát xuất từ bùn nhơ rồi từ từ vượt ra khỏi bùn, khỏi nước để sau đó trổ hoa thơm ngát. Hoa trổ rồi và hoa chưa trổ đều như nhau, mầm sen cũng phát xuất từ bùn.
    Ðức Phật dụ bùn như ngũ dục, tất cả chúng ta sanh ra trong ngũ dục. Nhưng nếu đắm chìm mãi trong ấy thì mình không cất đầu lên nổi, không thoát ra được nên gọi là chìm. Nếu khéo vượt ra khỏi vũng bùn ngũ dục, lần lần chúng ta sẽ trong sạch, tiếp tục vươn lên khỏi mặt nước, rồi sẽ trổ hoa. Ðức Phật cũng vậy, trước kia sanh trong cung vua Tịnh Phạn, từ nhỏ cho tới lớn Ngài thụ hưởng ngũ dục rất nhiều, cũng có vợ con. Nhưng sau đó thức tỉnh, Ngài bỏ tất cả vượt thành xuất gia tìm đạo. Nghĩa là Ngài cũng từ bùn ngũ dục thức tỉnh vượt ra mới giác ngộ được tất cả các Pháp mà chứng đạo vậy. Đây là một trong ba hình ảnh thí dụ mà Kinh Pháp Hoa đã nói đến đó là Dụ Thuyết Châu.
    Tất cả chúng ta cũng thế, ở trong ngũ dục nếu khéo thức tỉnh vượt ra, tu hành có ngày cũng ngộ đạo như Phật chứ không khác. Ðức Phật nói rằng: “Ta là Phật đã thành, còn các ngươi là Phật sẽ thành”. Tất cả chúng ta cũng là người sẽ thành Phật. Cho nên cái nhìn của đức Phật là cái nhìn bình đẳng tột cùng. Với con mắt chúng sanh, Phật và chúng ta cách xa muôn dặm, nhưng với con mắt (Từ nhãn thị chúng sanh) của Phật, thì chúng sanh và Phật chỉ cách nhau có một niệm phân biệt mà thôi.
    Lại nữa trong phẩm Dược Thảo Dụ của Kinh Pháp Hoa cũng có đoạn Đức Phật nói như sau: “Ca-Diếp! Thí như trong cõi tam-thiên đại-thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam-thiên đại-thiên đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm, cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ, hoặc thứ gốc chỉ vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn”.
    Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng trung hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.
    Phật lại nói: “Ca-Diếp nên biết! Đức Như-Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, A-tu-la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam-thiên đại-thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời nầy: “Ta là đấng Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn thời làm cho chứng Niết-bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc nhứt-thiết-trí, bậc nhứt-thiết-kiến, là bậc tri đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, A-tu-la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy”.
    Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Như-Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sanh nầy nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo.Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng.
    Đức Như-Lai nói pháp một tướng một vị, nghĩa là: Tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc "nhứt-thiết-chủng-trí". Có chúng sanh nào nghe pháp của Như-Lai hoặc thọ trì đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Những lời trên đây là được trích trong Phẩm Dược Thảo Dụ của Kinh Pháp Hoa.
    Phật nói rằng: “Nước trong bốn biển chỉ thuần một vị, đó là vị mặn, giáo Pháp của ta cũng vậy chỉ có một vị, đó là vị giải thoát khỏi khổ đau sanh tử luân hồi”
    Mặc dù trước lúc Đạo Phật có mặt ở đất nước này, Ấn Độ đã có hiện diện gần một trăm tôn giáo đang ngự trị và phát triển rất thịnh hành. Tuy nhiên các tôn giáo kể trên đều xây dựng giáo lý của mình dựa trên một đấng Thượng Đế hay một thần linh hữu ngã nào đó để thiết lập một đường hướng cho tín đồ tu theo.
    Dù rằng Đạo Phật đã thoát ra khỏi cảnh cố chấp vào đấng quyền năng hữu ngã nói trên, nhưng vì Đạo Phật là Đạo nhập thế nên tính chất tồn tại lâu dài cũng không ra ngoài sự thăng trầm sinh diệt, vô thường, hợp tan mà bị diệt vong trên chính mảnh đất này. Thời gian Phật giáo vắng mặt trên đất nước này cũng khá là dài, rồi mãi cho đến những thế kỷ sau này khi các nhà khảo cổ học ở phương Tây tìm kiếm khai quật vài trụ đá mà ngày xưa Vua A Dục đã dựng lên với mục đích là kỷ niệm các sự kiện cũng như những Thánh tích mà Đức Phật lúc còn tại thế đã hiện diện nơi đó. Từ đó Đạo Phật lại hồi sinh như những cánh rừng bị thiêu hủy, sau một trận mưa lớn các gốc cây kia lại đâm chồi nảy lộc ra cành lá mới.
    Do vậy mà khi xưa Tất Đạt Đa còn là một Đông Cung Thái Tử, Ngài đã du ngoạn ra bốn cửa thành rồi dần dần nhìn thấy sự bất công của muôn loài tranh nhau từng phút giây để sống và tồn tại. Có lẽ câu nói sau đây nó ra đời từ phút giây này thì phải hơn: “Không có một giai cấp nào trong dòng máu cùng đỏ, không có một giai cấp nào trong nước mắt cùng mặn”.
    Dần dà sau này khi Thái tử đi xuất gia học đạo và chứng ngộ Thánh quả thành Phật rồi, nhân một ngày nọ tại đỉnh Linh Thứu sơn (núi Kỳ Xà Quật), thuộc thành Vương Xá, cùng chúng đại Tỷ kheo mười hai ngàn vị, toàn là những bậc A La Hán cùng với chúng đại Bồ tát có tám mươi ngàn, toàn là những vị không thoái chuyển đối với tuệ giác vô thượng. Trong hội chúng này cũng có Chư Thiên và những vị trời Đế Thích cùng hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc.
    “Linh sơn hoa lá còn xanh
    Pháp Hoa Diệu Pháp an lành thế gian”
    Hai câu thơ lục bát trên đã gói trọn thâm tình giải thoát, đồng thời cũng là lòng từ bi vô lượng cùng với sự thương tưởng của Đức Phật đến với tất cả chúng sanh đang phải chịu đau khổ trong nhà lửa tam giới, vì say mê dục lạc; mà tham ái là đầu mối làm ràng buộc bản tâm y nguyên sáng suốt vốn có trong mỗi chúng sanh.
    Mỗi khi chúng ta ngồi đọc, tụng cũng như lắng tâm của mình để suy gẫm lại những lời dạy quý báu của Ngài trong Kinh Tạng nói riêng và trong Luật, Luận nói chung. Chúng ta luôn bắt gặp một nét đẹp chân thật chứa đựng tính chất từ bi, bình đẳng trong Kinh Pháp Hoa mà khi xưa Đức Phật đã giảng thuyết suốt trong thời gian bốn năm ròng rã. Và từ đó cánh cửa của thế giới bình đẳng được mở rộng ra với hai mươi tám phẩm trong Kinh.
    Có thể nói rằng khi nào trên bàn tay của chúng ta mà mình nhìn thấy giữa các ngón tay không bằng nhau thì lúc đó tính chất bình đẳng trong cuộc sống chưa được gọi là tuyệt đối, nhưng trên phương diện về ngôn ngữ thì con người luôn có một cảm tưởng rằng dường như chúng ta đang hưởng lấy sự bình đẳng. Ở đây điểm quan trọng hơn hết và được xây dựng thành một nền móng vững chắc cho nội tâm vẫn là cách suy tư và hành động của chính bản thân mình.
    Đức Phật ra đời là muốn phá bỏ hết những khoảng cách ở cái nhìn của con mắt đầy tính bất công và sự phân chia giai cấp nơi con người. Ngài muốn chỉ cho tất cả chúng sanh dù là vô tình hay hữu tình chúng sanh đi nữa cũng đều có Phật tánh như sau, chỉ vì do nghiệp lực sâu dày nên có sự thọ quả không đồng nhất; vì thế mà hình tướng của mỗi loài cũng khác đi. Tính chất bình đẳng này nếu mà chúng ta xét rộng ra thì nó đang bàn bạc khắp mọi nơi từ cá nhân cho đến tập thể xã hội, quốc gia hay toàn thế giới và tất cả muôn loài chúng sanh. Nhưng nếu xét ở điểm tột cùng của tinh thần thì tâm thức cũng là điều dẫn tới sự bất bình đẳng trong phân biệt cá nhân nhận thức và lẫn cả mọi người mọi loài sống ở xung quanh ta.
    Chúng ta nói cho cùng thì cũng nằm trên ngôn ngữ và kiến thức sai lạc của tầm nhìn nhận thức của trí tuệ thế gian mà thôi, để hiểu hết tính chất bình đẳng luôn chứa đựng lòng từ bi sáng suốt của Ngài vậy Đức Thế Tôn đã tóm thâu tính bình đẳng chân thật này qua phương tiện ngôn ngữ bằng bài kệ sau:

    Pháp Vương phá các cõi
    Hiện ra trong thế gian
    Theo tánh của chúng sanh
    Dùng các cách nói pháp
    Đức Như-Lai tôn trọng
    Trí huệ rất sâu xa
    Lâu giữ pháp yếu này
    Chẳng vội liền nói ra
    Người trí nếu được nghe
    Thời có thể tin hiểu,
    Kẻ không trí nghi hối
    Thời bèn là mất hẳn.
    Ca-Diếp! Vì cớ đó
    Theo sức chúng nói pháp
    Dùng các món nhân duyên
    Cho chúng được chánh kiến
    Ca-Diếp! ông nên biết
    Thí như vừng mây lớn
    Nổi lên trong thế gian
    Che trùm khắp tất cả
    Mây trí huệ chứa nhuần
    Chớp nhoáng sáng chói lòa
    Tiếng sấm xa vang động
    Khiến mọi loài vui đẹp
    Nhậït quang bị che khuất
    Trên mặt đất mát mẻ
    Mây mù sa bủa gần
    Dường có thể nắm tới.
    Trận mưa đó khắp cùng
    Bốn phương đều xối xuống
    Dòng nước tuôn vô lượng
    Cõi đất đều rút đầy
    Nơi núi sông hang hiểm
    Chỗ rậm rợp sanh ra
    Những cây cối cỏ thuốc
    Các thứ cây lớn nhỏ
    Trăm giống lúa mộng mạ
    Các thứ mía cùng nho
    Nhờ nước mưa đượm nhuần
    Thảy đều tươi tốt cả.
    Đất khô khắp được rưới
    Thuốc cây đều sum sê
    Vừng mây kia mưa xuống
    Nước mưa thuần một vị
    Mà cỏ cây lùm rừng
    Tất cả các giống cây
    Hạng thượng trung cùng hạ
    Xứng theo tánh lớn nhỏ
    Đều được sanh trưởng cả.
    Gốc thân nhánh và lá
    Trổ bông trái sắc vàng
    Một trận mưa rưới đến
    Cây cỏ đều thấm mướt
    Theo thể tướng của nó
    Tánh loại chia lớn nhỏ
    Nước đượm nhuần vẫn một
    Mà đều được sum sê.
    5. Đức Phật cũng như thế
    Hiện ra nơi trong đời
    Ví như vầng mây lớn
    Che trùm khắp tất cả
    Đã hiện ra trong đời
    Bèn vì các chúng sanh
    Phân biệt diễn nói bày
    Nghĩa thật của các pháp
    Đấng Đại-Thánh Thế-Tôn
    Ở trong hàng trời người
    Nơi tất cả chúng hội
    Mà tuyên nói lời nầy:
    Ta là bậc Như-Lai
    Là đấng Lưỡng-Túc-Tôn (5)
    Hiện ra nơi trong đời
    Dường như vầng mây lớn
    Thấm nhuần khắp tất cả
    Những chúng sanh khô khao
    Đều làm cho lìa khổ
    Được an ổn vui sướng
    Hưởng sự vui thế gian
    Cùng sự vui Niết-bàn.
    Các chúng trời người nầy
    Một lòng khéo lóng nghe
    Đều nên đến cả đây
    Ra mắt đấng vô thượng.
    Ta là đấng Thế-Tôn
    Không có ai bằng được
    Muốn an ổn chúng sanh
    Nên hiện ra trong đời
    Vì các đại chúng nói
    Pháp cam lồ trong sạch
    Pháp đó thuần một vị
    Giải thoát Niết-bàn thôi.
    Dùng một giọng tiếng mầu
    Diễn xướng nghĩa nhiệm nầy
    Đều thường vì Đại-thừa
    Mà kết làm nhân duyên.
    Ta xem tất cả chúng
    Khắp đều bình đẳng cả
    Không có lòng bỉ thử
    Cũng không có hạn ngại
    Hằng vì tất cả chúng
    Mà bình đẳng nói pháp
    Như khi vì một người
    Lúc chúng đông cũng vậy.
    Thường diễn nói pháp luôn
    Từng không việc gì khác
    Ngồi, đứng, hoặc đến, đi
    Trọn không hề nhàm mỏi
    Đầy đủ cho thế gian
    Như mưa khắp thấm nhuần
    Sang hèn cùng thượng hạ
    Giữ giới hay phá giới
    Oai nghi được đầy đủ
    Và chẳng được đầy đủ
    Người chánh-kiến tà-kiến
    Kẻ độn căn lợi căn
    Khắp rưới cho mưa pháp
    Mà không chút nhàm mỏi.
    Tất cả hàng chúng sanh
    Được nghe pháp của ta
    Tùy sức mình lãnh lấy
    Trụ ở các nơi các bậïc
    Hoặc là ở trời, người
    Làm Chuyển-luân thánh-vương
    Trời Thích, Phạm, các vua
    Đó là cỏ thuốc nhỏ
    Hoặc rõ pháp vô lậu
    Hay chứng được Niết-bàn
    Khởi sáu pháp thần thông
    Và được ba món minh
    Ở riêng trong núi rừng
    Thường hành môn thiền định
    Chứng được bậc Duyên-giác
    Là cỏ thuốc bậc trung.
    Hoặc cầu bực Thế-Tôn
    Ta sẽ được thành Phật
    Tu hành tinh tấn, định
    Là cỏ thuốc bậc thượng
    Lại có hàng Phật tử
    Chuyên tâm nơi Phật đạo
    Thường thật hành từ bi
    Tự biết mình làm Phật
    Quyết định không còn nghi
    Gọi đó là cây nhỏ.
    Hoặc an trụ thần thông
    Chuyển bất thối pháp luân
    Độ vô lượng muôn ức
    Trăm nghìn loài chúng sanh
    Bồ-Tát hạng như thế
    Gọi đó là cây lớn.
    Phật chỉ bình đẳng nói
    Như nước mưa một vị
    Theo căn tánh chúng sanh
    Mà hưởng thọ không đồng
    Như những cỏ cây kia
    Được đượm nhuần đều khác
    6. Phật dùng món dụ nầy
    Để phương tiện chỉ bày
    Các thứ lời lẽ hay
    Đều diễn nói một pháp
    Ở nơi trí huệ Phật
    Như một giọt trong biển.
    Ta rưới trận mưa pháp
    Đầy đủ khắp thế gian
    Pháp mầu thuần một vị
    Tùy sức riêng tu hành,
    Như thể lùm rừng kia
    Và cỏ thuốc những cây
    Tùy giống lớn hay nhỏ
    Lần lần thêm sum suê
    Pháp của các đức Phật
    Thường dùng thuần một vị
    Khiến cho các thế gian
    Đều khắp được đầy đủ
    Lần lựa siêng tu hành
    Rồi đều được đạo quả.
    Hàng Thanh-văn, Duyên-giác,
    Ở nơi chốn núi rừng,
    Trụ thân hình rốt sau
    Nghe Phật Pháp được quả
    Nếu các vị Bồ-Tát
    Trí huệ rất vững bền
    Rõ suốt cả ba cõi
    Cầu được thừa tối thượng
    Đó gọi là cây nhỏ
    Mà được thêm lớn tốt.
    Lại có vị trụ thiền
    Được sức thần thông lớn
    Nghe nói các pháp không
    Lòng rất sanh vui mừng
    Phóng vô số hào quang
    Độ các loài chúng sanh
    Đó gọi là cây lớn
    Mà được thêm lớn tốt
    Như thế, Ca-Diếp này!
    Đức Phật nói pháp ra
    Thí như vầng mây lớn
    Dùng nước mưa một vị
    Đượm nhuần nơi hoa người
    Đều được kết trái cả.
    Ca-Diếp ông phải biết
    Ta dùng các nhân duyên
    Các món thí dụ thảy
    Để chỉ bày đạo Phật
    Đó là ta phương tiện
    Các đức Phật cũng thế
    Nay ta vì các ông
    Nói việc rất chân thật
    Các chúng thuộc Thanh-văn
    Đều chẳng phải diệt độ
    Chỗ các ông tu hành
    Là đạo của Bồ-Tát
    Lần lần tu học xong
    Thảy đều sẽ thành Phật.
    Tác giả: Nẻo Xa

0 nhận xét:

Đăng nhận xét