Để chống chọi lại với sự biến dịch của thời gian và không gian này, thì tất cả con người chúng ta đang sống trên hành tinh này luôn luôn đi tìm cầu đủ mọi cách để vượt qua bốn ngưỡng cửa sinh tử sau, đó là: Sinh, Già, Bệnh, Chết. Bốn giai đoạn chính của một đời người tất cả vạn vật trên thế gian này cũng đều phải trải qua, nhưng cũng có không ít người vì nghiệp dày phước mỏng nên đã lìa bỏ xác thân của mình trước khi giai đoạn Già, Bệnh và Chết đang đến. Nói cho cùng thì con người phần nhiều là chấp thủ ngã và ngã sở, nên bị chìm sâu vào vòng sinh tử khổ đau, trong lúc này thì tiếng nói của Duyên sinh vô ngã phải là tiếng nói của bậc giác ngộ và giải thoát hoàn toàn khỏi mọi khổ đau.
Vậy Duyên sinh là gì? Đức Thế Tôn định nghĩa như sau: “Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi (hay Duyên sinh).” (Tương Ưng Bộ Kinh II, tr. 1-2).
“Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt; do hành diệt nên thức diệt; v.v… lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Này các Tỳ Kheo, như vậy là đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh II, tr. 1-2)
Ngoài ra trong Kinh Phật Tự Thuyết (Tiểu Bộ I, tr. 291), nguyên lý Duyên Khởi đã được Thế Tôn tóm tắt như sau:
Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.
Do cái này sinh nên cái kia sinh.
Do cái này diệt nên cái kia diệt.
Để tìm ra một lối đi chân chánh mà không dựa trên một quyền năng hay một đấng Thượng Đế tạo hóa nào, thì chỉ có một cách duy nhất đó là tự mình phải gắng sức tu hành theo những lời mà khi xưa cách đây hơn 2633 năm tại đất nước Ấn Độ cổ; Đức Thế Tôn còn tại thế đã chỉ dạy rằng:
“Biết thân như bọt nước,
Ngộ thân là như huyễn,
Bẻ tên hoa của ma,
Vượt tầm mắt thần chết.” (PC- 46)
Chỉ có cách tự mình ngộ nhận được tất cả các pháp là như “mộng huyễn bào ảnh” thì mới mong thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của Thành, Trụ, Hoại, Không; bốn pháp này luôn tương ứng với bốn nguyên lý sau đó là: Sanh, Già, Bệnh, Chết. Ngộ nhận được bốn nguyên lý này thì tâm chúng ta không còn chấp có ngã và ngã sở nữa, rồi từ đó làm nền tảng cho con đường thẳng đến bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Không những thế mà Đức Phật còn dạy thêm trong việc thấy tâm mình rồi thì phải làm cách nào để chế ngự được tâm của chính mình nữa, cho đến lúc đoạn trừ hết tham ái mới thôi.
“Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.” (PC – 113)
Một khi chúng ta không thấy pháp vô thường sinh diệt của các pháp thì không thể nào ra khỏi khổ xứ được, bỡi vậy Đức Phật dạy tốt hơn sống một ngày mà nhìn thấy được pháp sinh diệt thì thật là tối thượng.
“Ai sống một trăm năm,
Không thấy câu bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử.” (PC- 114)
“Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp tối thượng,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp tối thượng.” (PC- 115)
Chúng sanh muốn ngộ được chân lý, điều tối cần nhất đó là phải thực hành đúng như “Pháp” mà Phật đã dạy trong các Kinh điển, thì mới có cơ hội đốn siêu được tất cả các cảnh và chứng được quả Nhất Thừa. Muốn làm được việc đó, thì ở đời này ngay trong cá nhân từng người chúng ta đều phải trải qua vô lượng kiếp tu trì mới có sự lĩnh hội được các pháp chứ không thể nói suông bằng lý thuyết mà thành tựu được Thánh quả. Câu nói sau đây của Đức Phật đã khiến cho hàng đệ tử của Ngài thấy rõ sự lợi ích của việc thực hành miên mật từng pháp môn một thì sẽ đem lại một năng lượng giải thoát cho bản tâm mình ngay trong đời hiện tại như thế nào?
Phật dạy rằng: “Người tuy ở gần ta mà không lấy giới luật, phạm hạnh làm kim chỉ nam để tu trì, thì cũng như đang ở cách xa ta ngàn dặm. Và ngược lại người tuy ở xa ta ngàn dặm mà ngày đêm thiền định, hành trì giới luật của ta đã dạy thì người ấy cũng như đang ở bên cạnh ta vậy.”
Qua lời dạy trên đây của Đức Phật đã cho chúng ta thấy rằng bất cứ một pháp nào cũng đều dựa trên phương diện thực hành mới ngộ nhập “Phật tri kiến” được. Điều này cũng giống như một câu nói ở trong Kinh điểm: “Ẩm thủy tự tri”, nghĩa là uống nước tự biết vậy.
Từ địa vị phàm phu như chúng ta đây, muốn tu hành đến địa vị Phật quả tất nhiên phải trải qua gian đoạn hành Bồ Tát đạo, nghĩa là lấy sáu pháp Lục Độ Ba La Mật làm căn bản Bồ Đề tâm để hóa độ chúng sanh. Khi Bồ Tát hạnh được viên mãn thì vượt qua quả vị Thập địa rồi chứng đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành Phật tối Tôn.
Chúng ta thấy vị Bồ Tát luôn gần gũi với tất cả chúng sanh như một người mẹ hiền đang dõi theo những bước chân của một đứa con mới ban đầu biết chậm chững tập đi. Vị Bồ Tát đại từ, đại bi ấy như đang ở gần mãi bên tất cả chúng ta vậy, Bồ Tát Quán Thế Âm ngài luôn luôn dùng lục căn hổ dụng của mình để xem xét tất cả những chúng sanh đang tưởng nhớ đến danh hiệu ngài một cách thành tâm mỗi khi bị gặp tai ương hoạn nạn trong kiếp sống bình sinh. Để rồi Bồ Tát Quán Thế Âm đã dùng đủ mọi phương tiện quyền xảo để hóa độ những chúng sanh ấy qua khỏi ách nạn, rồi ngài mới đem pháp Nhất Thừa ra để dạy cho chúng sanh tu hành và chứng quả giải thoát Niết Bàn tịch tịnh.
Muốn làm sáng tỏ được lòng Đại từ Đại bi, hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm như thế nào? Thì người viết xin trích một đoạn trong Kinh Pháp Hoa, ở Phẩm: “Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn” thứ hai mươi lăm, do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch để nói lên công hạnh cao siêu Vi Diệu của ngài mỗi khi ứng thân thị hiện để hóa độ tất cả những chúng sanh ở các quốc độ khắp mười phương.
Sau đây là những lời thệ nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm ở trong Kinh Pháp Hoa.
Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được ly dục.
Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa lòng giận.
Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa ngu si.
Lại nữa: Ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát dạo đi trong cõi Ta-bà như thế nào? Sức phương tiện đó như thế nào?”
Phật bảo Vô-Tận-Ý Bồ-Tát rằng:
Thiện-nam-tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Duyên-giác đượcc độ thoát, liền hiện thân Duyên-giác mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Phạm-vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm-vương mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Đế-Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế-Thích mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Đại-tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại-tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Thiên-đại-tướng-quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên-đại-tướng-quân mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tỳ-sa-môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-sa-môn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tiểu-vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu-vương mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Trưởng-giả được độ thoát, liền hiện thân Trưởng-giả mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Cư-sĩ được độ thoát, liền hiện thân Cư-sĩ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tể-quan được độ thoát, liền hiện thân Tể-quan mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-Sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân đồng-nam, đồng-nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng-nam, đồng-nữ mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn cùng phi nhơn được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.
Người đáng dùng thân Chấp-Kim-Cang thần được độ thoát, liền hiện thân Chấp-Kim-Cang thần mà vì đó nói pháp.
Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Quán-Thế-Âm đại Bồ-Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô-úy, cho nên cõi Ta-bà này đều gọi Ngài là vị “Thí-vô-úy”.
Có thể dùng từ ngữ để nói rằng Bồ Tát Quán Thế Âm là vị Bồ Tát:
“Đủ tất cả công đức
Mắt lành trông chúng sanh
Biển phước lớn không lường
Cho nên phải đảnh lễ.”
Vì tất cả chúng sanh nên chư Phật và Bồ Tát đã không ngại hóa thân hay dùng đủ mọi phương tiện quyền xảo để hóa độ, thế nên chúng ta hà kế gì mà không tự thân gọt giũa tâm tham, sân, si của mình mà nổ lực tu hành cho mau thành Chánh Giác như chư Phật vậy? Đó cũng là đã đền đáp được phần nào trong muôn một của bản hoài chư Phật đã chỉ dạy trong các Kinh điển; làm được như thế thì thật xứng danh là hàng đệ tử của chư Phật vậy.
Tác giả: Nẻo Xa
0 nhận xét: