Trung
Hoa là một nước có nền văn minh lâu đời so với tất cả các nước trên thế giới, về
mặt lịch sử hình thành đất nước thì đứng hàng thứ ba sau Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ.
Để tồn tại và phát triển một kho tàng văn minh đồ sộ như vậy, tất yếu văn hóa bản
địa đóng một vai trò rất quan trọng từ thời khởi nguyên cho đến bây giờ cũng vậy.
Đạo Khổng, đạo Lão giữ một vị trí tối ưu trong xã hội thời xa xưa, hai hệ tư tưởng
tạo ra sự phân hóa qui luật và trật tự xã hội thời bấy giờ, Lão Tử viết ra Đạo
Đức Kinh hay gọi là “Triết học cổ đại”
và Tứ Thư Ngũ Kinh của Khổng Tử lấy bốn nguyên tắc cơ bản “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nhằm thiết lập Đạo Đức làm người trong xã hội
phong kiến; nhưng cốt yếu của nền triết học cổ đại này đã chế tác ra một con
người hoàn thiện về mặt tri thức, nổi trội hơn mọi người về đạo đức sống. Từ đó
các vị Đế Vương mới có lý tưởng xã tắc trường tồn mãi mãi, đó cũng là nguyên
nhân chính để nền triết học cổ đại này chinh phục lòng người từ thời lập quốc xa xưa cho đến ngày nay. Tuy nhiên nếu chúng
ta xét hai hệ tư tưởng trên theo góc độ một học thuyết tâm linh thì có phần gò
bó con người không cho họ một lối thoát thật sự trên phương diện nhận thức về
Nhân Sinh Quan và Vũ Trụ Quan. Bỡi chính những nguyên tắc sống hay nói cách
khác là sự phân hóa giai cấp giữa con người với con người trong một xã hội thời
phong kiến, đã làm tâm hồn con người ngày càng hoảng sợ. Mặc khác những nguyên
tắc của Lão Tử và Khổng Tử giống như con dao hai lưỡi, nó mang tính áp đặt hơn
là hướng thượng, do chế độ quân chủ chuyên chế quân quyền đã tạo ra người lãnh
đạo một bản ngã thật sự chẳng xem người dân ra gì, sự phân chia tầng lớp giàu
nghèo và ràng buộc tâm họ không thể nào vượt ra ngoài lớp vỏ bọc mà chính người
đi trước đã tạo. Đạo
Phật có mặt trên thế gian này là để giúp con người nhận chân được kho tàng tri
kiến quí giá sẵn có nơi mỗi con người chúng ta, kho tàng ấy được đức Phật gọi
là “Thật Tánh Bình Đẳng”, chính tánh
chân thật đó là phương thuốc vi diệu hóa giải được tâm hồn chấp trước vào bản
ngã sai lầm từ giai cấp và những qui luật xã hội mà chính con người đặt ra như
“Vua xử tử thần bất tử bất trung”. Phật
giáo đã du nhập vào Trung Hoa bằng con đường “Tơ Lụa” qua các hình thức truyền đạo của các thương nhân buôn bán
giữa những nước Trung Á và Ấn Độ cổ đại. Ban đầu Phật giáo có mặt ở Trung Hoa
cũng bị người bản địa kích bát cho là tôn giáo ngoại lại và chẳng biết đức Phật
là ai và người như thế nào, để giáo pháp của đức Phât thấm nhuần với người dân
nơi đây, các vị Tổ sư đã dùng những phương tiện quyền xảo để truyền đạo, trong
đó có như câu nói rất nổi tiếng: “Tam
Giáo Đồng Nguyên”, là chỉ cho đạo Phật, đạo Lão và đạo Khổng. Mãi cho đến khi giáo pháp của đức Phật
có chỗ đứng trong lòng người Trung Hoa rồi, sắc màu đột phá cho những bước phát
triển của Phật giáo lại được mở rộng cực kỳ nhanh chóng, có thể nói rằng Phật
giáo từ một vị trí tầm thường lên vị trí ngang hàng với các tôn giáo truyền thống
là một nổ lực không ngừng phát triển cả về giá trị tu tập lẫn hình thức Kinh điển.
Điều này phải nói rằng giáo lý của đức Phật mang tính thực tế cuộc sống hơn là
huyền bí mê tín, đặc biệt hơn nữa giáo pháp của đức Phật hoàn toàn không có quyền
lực áp đặt cho con người ở khía cạnh thực hành, nên đây là điểm lợi thế hơn các
tôn giáo truyền thống bản địa là vậy. Thời gian đó thiền Tông chỉ được xem là một
người khách mời quen thuộc bị lãng quên trong quá khứ, nên ít được ai để ý đến,
nếu có cũng chỉ giới hạn phạm vi hiểu biết ở các vị Tăng sĩ mà thôi; trong khi
đó các Tông phái khác của Phật giáo đã phát triển rất mạnh ở nước này như Tịnh
Độ tông, Luật tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông và Duy Thức tông. Tuy Thiền
Tông chưa được phổ biến rộng rãi, không có nghĩa là hoàn toàn không có cơ hội
phát triển ngang hàng như những Tông phái khác đã làm được trước đó. Ý nghĩa
này chúng ta có thể ví như lời dạy của Tổ Qui Sơn rằng: “Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu
nhuận”, Hòa Thượng Thanh Từ dịch nghĩa là: “Gần gũi người lành như đi trong sương móc, tuy không thấy ướt áo mà dần
dần thấm nhuần”. Thật vậy Thiền Tông cũng đã đến lúc nở rộ như những bông
hoa đã nở trong vườn hoa Phật pháp. Bằng chứng là ở Triều nhà Đường vào khoảng năm 686 -760 hoặc 670 -762 có
Thần Hội là một học trò của Lục Tổ Huệ Năng cũng là thiền sư rất muốn pháp môn
Thiền Tông ở Trung Hoa được nhiều người biết đến và thực hành theo, giống như
các Tông phái khác của Phật giáo đã và đang có mặt tại đất nước này vậy, mặc dù
ý tưởng này đã được các vị Tổ sư trước đó làm, nhưng chưa hội đủ nhân duyên lớn
để phát huy giá trị của pháp môn này. Vì vậy chưa được nhiều người học và thực
hành theo là đương nhiên. Hôm nay Thần Hội đã làm được việc lớn cho Thiền Tông
Trung Hoa, cũng không phải tự mình tạo ra một pháp tu mới, mà hoàn toàn ông lấy
cơ sở từ ý nghĩa đức Phật chứng đạo dưới cội Bề Đề bằng phương pháp thiền định,
đức Phật đã chứng được Tam Minh (Thiên Nhãn Minh, Túc Mạng Minh và Lậu Tận
Minh); Ngài đã nhận chân được tất cả các pháp thật tướng bình đẳng xưa nay
không hề hư dối hay tăng giảm bỡi thời gian cùng tân hay uế nhiễm do năm món
trược. Thầy Thần Hội đã chọn lọc phân tích một cách có logic từ câu chuyện luận
giải giữa Ngài Ca Diếp với đức Phật, mặc dù ý tưởng này mang tính chất giả sử
hơn là chính sử, nhưng vẫn được dựa trên nền tảng của một vài dẫn chứng từ
trong Kinh điển. Câu chuyện luận giải được trình bày vắn tắt như sau: “Một hôm các thầy Tỷ Khưu đang ngồi nghe pháp
bỗng nhiên đức Phật im lặng và chỉ cầm một cành hoa sen giơ lên, cũng trong lúc
đó tôn giả Ma Ha Ca Diếp chợt mỉm cười”. Thầy Thần Hội dẫn tiếp ý của đức
Phật như sau: “Ta có chính pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-diếp. Ca-diếp là chỗ nương
tựa lớn cho các thầy tì kheo, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả
chúng sinh”. Từ câu nói này, chư vị Thiền sư tiền bối đã diễn đạt thành: "Ta
có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu,
bất lập văn tự, truyền ngoài giáo pháp, nay trao cho Ca-diếp”. Thần
Hội gọi nụ cười này là “Niêm Hoa Vi Tiếu”
rồi cho ra đời nhiều tác phẩm nói về Thiền và trong đó có tác phẩm “33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa”, tác phẩm
này được Hòa Thượng Thanh Từ soạn dịch từ Hán ra Việt ngữ. Vậy chữ Thiền là gì?
Và ý nghĩa của nó ra sao đối với một hành giả muốn tu tập thiền định cần hiểu
biết những điều gì gọi là căn bản nhất đối với pháp môn thiền, để khi thực hành
không bị lạc lối hay sinh ra nhiều quan niệm không đúng về thiền. Khi nói đến Thiền, chúng ta thường liên tưởng đến Thiền Tông, một
trong những Tông phái Phật học rất nổi tiếng và thịnh hành ở Trung Hoa, Nhật Bản
và Việt Nam thời quá khứ. Nhưng thực ra, Thiền học có nhiều chủng loại và tên gọi
khác nhau, không phải chỉ có một Thiền học Đại Thừa như ta thấy ở Thiền Tông của
ba nước vừa nêu trên thôi, trong khi đó ngoại đạo cũng có Thiền. Vậy để tìm hiểu
sâu sắc hơn về từ ngữ và ý nghĩa của pháp môn này chúng ta cần phải xét về nguồn
gốc của chữ Thiền, trong tiếng Phạn gọi là Dhyana hay
tiếng Pali gọi là Jhana mà ra:
có nghĩa là Tư Duy hay Tĩnh Lự. Bên cạnh đó Phái Du Già, là một trong
sáu phái triết học của Ấn Độ, xem Thiền là giai đoạn thứ bảy một trong tám
giai đoạn tu hành đối với một hành giả muốn thực hành pháp môn Thiền cần hiểu
biết thật tường tận để không bị lầm lạc khi thực hành. Trong khi đó Phật giáo
Nguyên Thủy (Thượng Tọa Bộ) đặc biệt chú trọng đến Tứ Thiền và xem Tứ Thiền
là một pháp tu quan trọng nhất không thể thiếu được đối với một vị Tỷ Khưu. Nhưng
ở giáo điển của Đại Thừa thì lại xem thiền là một trong lục Ba La Mật nghĩa là sáu
phương tiện để một vị hành giả thực thành Bồ Tát hạnh với mục đích độ tất cả
chúng sanh hết khổ ách vượt sang bờ giải thoát nhắm thẳng đến quả vị thành Phật.
Nói đến hạnh nguyện của một vị Bồ Tát là nói đến kết quả cuối cùng đi đến Diệu
Giác, ở địa vị này người hành giả không chỉ dùng sáu Ba La Mật mà vị Bồ Tát đã
thực hành mười Ba La Mật hoặc Vô Lượng Ba La Mật như trong Kinh Thập Địa đã nói
để tu chứng Tự Giác và Giác Tha viên mãn thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Cho nên Thiền được hiểu và thực hành tùy theo đối tượng và căn cơ, không nên hiểu
và chỉ áp đặt cho một ai cả hiểu biết sơ sài về pháp môn này. Xuyên suốt những
bài kệ của 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa do Thầy Thần Tú tạo ra, đã cho chúng ta
thấy một cái nhìn khá tinh vi và lập luận chặt chẽ, nhưng nếu một ai đó đưa tác
phẩm này ra phân tích ý nghĩa của những bài kệ mỗi vị Tổ Sư; sẽ thấy tác giả chỉ
nói duy nhất một chữ đó là chữ “Pháp”. Vậy chữ pháp này có thể bao trùm cả hệ
thống Kinh, Luật, Luận của Phật giáo chẳng? Hay Thần Tú đã đánh đồng chữ tâm với
chữ pháp trong hệ thống kinh điển, nhằm chỉ ra tầm quan trọng của pháp môn thiền
học. Thực ra ông cũng không có ý đồ kích bát pháp môn nào cả, mà chỉ dựa vào
câu chuyện “Niêm Hoa Vi Tiếu” để tạo ra một tầm nhìn xuyên suốt có triết lý đối
với một pháp môn Thiền bị quên lãng trong kho tàng kinh điển của Phật giáo vậy
thôi. Còn nếu chúng ta xét về góc độ đúng sai của một pháp môn, thì không hẳn
hoàn toàn nghiêng về bên nào hết. Để hiểu biết thêm chữ “Pháp” mà Thần Tú dùng
trong 33 bài kệ của các vị Tổ sư mang ý nghĩa rộng hẹp ra sao. Trước hết chúng ta tìm hiểu chữ Pháp trong
Phật giáo như thế nào, tiếng Phạn dùng chữ Pháp (Dhamma,Dharma) là chỉ cho giáo pháp của đức Phật (Buddha Dhamma), hay những lời dạy
của đức Phật (Buddhavacana).
Thuật ngữ Pháp cũng được kết hợp với thuật ngữ Vinaya (Luật), từ đó hình thành
một cụm từ Pháp-Luật (Dhamma-Vinaya),
chỉ cho giáo pháp và những giới luật được đức Phật thuyết giảng và chế định cho
những đệ tử của Ngài thực hành theo. Nhưng khái niệm Pháp trong Phật giáo không
chỉ giới hạn nơi phạm vi ấy, mà còn có những hàm nghĩa rộng hơn, ngay ở nơi Phật
giáo thời kỳ đầu. Trong kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesanasuttam, số 26 thuộc
Kinh Trung Bộ, do HT. Minh Châu dịch việt), Pháp được xem như định luật Duyên
khởi. Một đoạn trong kinh Thánh Cầu viết: “Pháp
này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng,
siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa
ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái
dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccāyata
Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự
tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.”. Mặc khác
chữ Pháp một cách gọi của Duy Thức Tông là chỉ cho một trăm yếu tố được chia thành
năm nhóm như sau: Tâm pháp có 8, Tâm sơ hữu pháp có 51, Sắc pháp có 11, Tâm bất
tương ưng hành pháp có 24, Vô vi pháp có 6. Một sự phân loại về chữ Pháp của Theravāda cũng được
trình bày có hệ thống trong Abhidhammāvatarā (Nhập A-ti-đạt-ma luận) của
Buddhadatta. Pháp ở đây bao gồm tới 170 yếu tố và được phân chia thành bốn
nhóm: sắc, tâm, tâm sở và Niết Bàn. Còn rất nhiều từ ngữ nói về chữ Pháp trong
Tam Tạng kinh điển Phật giáo nữa, nhưng ở đây chỉ đề cập vài ví dụ rõ nhất để
chúng ta thấy rằng Pháp không chỉ là một mà vô lượng pháp. Tuy nhiên để hiểu biết
pháp một cách chân thật nhất chỉ có một trí huệ giải thoát mà thôi. Vậy
thì từ một câu chuyện “Niêm Hoa Vi Tiếu” được chép trong kinh điển nhưng qua
ngòi bút tài ba của một thiền sư Thần Tú đã cho ra đời một quan niệm, một nhận
thức về thiền Tông có vị trí quan trọng trong quá trình tu tập từ một người
phàm phu đến quả Phật như thế nào. Ngày nay Phật giáo càng phát triển ở khắp
nơi trên thế giới, thì pháp môn Thiền Định lại được nhiều người tìm hiểu và tu
tập rộng rãi như thế nào. Vì Thiền Định có thể đem lại sự an lạc ngay trong đời
hiện tại và giúp cho tâm thức giải thoát chứng Thánh không những một đời mà rất
nhiều đời của kiếp làm người.
Viên Ý Phổ

0 nhận xét: