• Tri Ân và Báo Ân




    Tôi đứng trên mảnh đất Việt Nam thân yêu, nhìn thật lâu vào một khoảng không gian vô tận của bầu trời xa xăm, thấy một màu xanh thẳm tít tận mù khơi. Trong lòng tôi dấy lên một cảm xúc thật khó nói nên lời, phải chăng những cơn mưa Ngâu của mùa Hạ đã dệt thành các làn sóng nhỏ li ti đang khuấy động mặt hồ tĩnh lặng ở trong tim mà bao nhiêu năm rồi chưa từng gợn sóng? Có lẽ từ bao đời Tổ Tiên của người Việt chúng ta, đã mượn cảnh tượng hồn quê mộc mạc đơn sơ để nói lên cái cảm xúc thiêng liêng cao quí biết nhường nào của nếp sống đạo đức Chân Thiện Mỹ. Nếu như những cơn mưa Phùn có mặt vào mùa Xuân, đó là báo hiệu một sức sống sung túc dài lâu và vui tươi hạnh phúc của vạn vật và của cả con người. Ngược lại với mùa Xuân ấm áp tình người nơi đất khách là mùa Hạ oi bức khô cằn nhất của bốn mùa trong năm, nhưng để dung hòa giữa con người và vũ trụ thỉnh thoảng bầu trời lại cảm động trước những con người có tấm lòng vĩ đại bằng những cơn mưa Ngâu lác đác giữa mùa Hạ. Hay chăng ở bất cứ mùa Hạ nào cũng chỉ có duy nhất một thời tiết nắng nóng và hanh khô, cho nên những hạt mưa là đối tượng được trân quý nhất không chỉ ở con người mà hầu như trong tất cả vạn vật đang từng phút từng giây khắc khoải mong chờ một sự sống thiêng liêng cần tiếp nối. Có ai đó đã một lần trong đời của mình phải đi qua sa mạc, mới thật sự chứng kiến một cảnh tượng mà nơi đó hầu như sự sống con người không bao giờ có mặt và hiện hữu. Theo truyền thuyết của dân gian Việt Nam kể rằng, ngày xưa có nàng Chức Nữ là con gái yêu của ông Trời, suốt ngày nàng chăm chỉ dệt vải thêu thùa. Thời gian không bao lâu ông Trời lại đem con gái cưng của mình xe duyên với một chàng trai được người được nết tên là Ngưu Lang. Kể từ đó Chàng lo chăm sóc đàn trâu của nhà Trời, hai người sống rất hạnh phúc bên nhau. Tuy nhiên vợ chồng Ngưu Lang Chức Nữ chỉ suốt ngày quấn quýt với nhau cho nên đã chểnh mảng công việc Trời giao. Khung cửi bỏ không, đàn trâu gầy đói. Từ đó ông Trời rất giận dữ đã dùng phép thuật của mình đày cả hai vợ chồng xuống trần gian sống bên bờ sông Ngâu, nhưng lại bắt mỗi người ở mỗi bên của bờ sông. Hàng năm ông Trời chỉ cho hai người gặp nhau một lần vào ngày mùng bảy tháng bảy Âm lịch. Vào ngày ấy, bao giờ cũng mưa dầm dề, đó là nước mắt của cả vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ vì nhớ thương mà không được ở gần bên nhau. Nhân dân gọi đó là mưa Ngâu (một cách đọc chệch của chữ Ngưu thành chữ Ngâu). Ngày nay những đôi vợ chồng trẻ vì nhiệm vụ hay vì một hoàn cảnh nào đó trong cuộc sống làm ăn, mà luôn phải ở xa cách nhau thường được ví rằng “như vợ chồng chàng Ngâu”. Lại một quan niệm khác về truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ, thì mỗi khi Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau, họ đã khóc và nước mắt của họ rơi xuống trần gian hoá thành những cơn mưa, đó chính là mưa Ngâu. Do vậy, người ta còn gọi họ là ông Ngâu bà Ngâu. Truyện kể rằng, cứ sau khi hàn huyên tâm sự vì phải ở xa nhau những tháng ngày dài đăng đẳng của một năm, nên họ không giấu được nỗi nhớ thương của mình lại chỉ biết khóc cho nên những cơn mưa mới không liên tục, lúc mưa, lúc tạnh là ý nghĩa như vậy. Mưa Ngâu không chỉ xoa dịu khí hậu nóng bức của mùa Hạ, mà còn muốn thầm nhắc nhở trong tâm mỗi con người chúng ta sống phải có sự hoài niệm về hai đấng sanh thành của mình đó mới là phải đạo làm con.   
    Dù truyền thuyết dân gian hay một câu chuyện tình có thật của con người được truyền khẩu qua nhiều thế hệ chúng ta, mỗi khi chúng ta đọc qua câu chuyện ấy chắc chắn trong tâm cảm ai cũng tiếc thương và xúc động cho Nghiệp Duyên của họ, vì câu chuyện luôn chứa đựng những triết lý sống sâu sắc mang đậm chất liệu nên thơ và hồn người chứa chan trong mình một nền văn hóa Việt hơn bốn ngàn năm Văn Hiến. Hầu như năm nào vào tháng bảy âm lịch cũng có những cơn mưa Ngâu tái hiện và đang rơi rơi từng hạt thưa thớt giữa một khoảng không gian ảm đạm của đất trời, gợi lên trong tâm hồn mỗi con người chúng ta một phút lắng đọng suy tư hay hoài niệm về ý nghĩa của chữ “Tri Ân và Báo Ân”, mà quanh năm chúng ta sống trong sự quên lãng nơi ký ức giữa bộn bề công việc cơm áo gạo tiền. Nên quanh năm suốt tháng cuộc sống của những người nông dân nghèo khốn khổ, chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Nói như vậy, không có nghĩa rằng chúng ta vì tìm kế mưu sinh cho gia đình mình mà quên đi cái tâm linh quí giá đang có mặt và hiện hữu trong từng ưu tư của hơi thở và việc làm chúng ta. Chỉ cần một phút thôi, chúng ta cũng đủ thời gian để nhớ tưởng và tạo nên một sợi dây kết nối tình cảm biết ơn sâu sắc đối với Tổ Tiên Ông Bà trong quá khứ không chỉ ở một đời mà có thể nhiều đời hoặc nhiều kiếp đã qua và hiện tại ngay trước mắt của chúng ta đây là hai đấng sanh thành dưỡng dục của chúng ta, là biết ơn Cha và Mẹ của chính mình bằng những việc làm rất chân thực. Đức Phật dạy ân nghĩa của Cha và Mẹ trong Kinh Tâm Địa Quán như sau: “Ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ thật bao la cao như núi và rộng như biển, ân cha hiền cao như núi cả, ân mẹ hiền rộng tợ biển khơi. Cha mẹ là đôi vầng nhật nguyệt sưởi ấm và sáng soi đời con đi, mẹ còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng, mẹ khuất bóng rồi gọi là mặt trời đã lặn. Sự khổ nhọc của cha mẹ để tạo tác cho con một hình hài đáng được tôn vinh hơn thần thánh, có thể xem cha mẹ là thần linh cao nhất trong các thần linh”. Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương đức Phật cũng có dạy rằng: “Cha mẹ còn được tôn xưng cao quý tột bậc như là Phật”.  Kinh Đại Tập cũng có đoạn đức Phật dạy rằng: “Gặp thời không có Phật, khéo phụng thờ cha mẹ tức là phụng thờ Phật vậy”. Nói đến hiếu hạnh cần làm nhất của một người con đối với Cha Mẹ mình, có rất nhiều phương diện để chúng ta thực hành việc báo đáp công ơn muôn một ấy. Có người con nào khi đi xa về mua tặng cho cha mẹ mình một bó hoa hồng với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt ngây thơ tự thuở nào, hoặc một món quà nho nhỏ nào đó mà cha mẹ mình đã từng nhắc đến với mình. Chúng ta cũng biết rằng trong sống đầy đủ vật chất như hiện nay, có không ít những khung trời đen tối của những việc làm trái đạo đối với một số người thiếu hiểu biết và chỉ biết đua đòi theo thói hư tật xấu tiêm nhiễm ở đời. Bên lề của cuộc sống xã hội muôn màu muôn vẻ như vậy, cũng có đâu đó những tấm lòng thầm lặng trung kiên hiếu thảo với cha mẹ của mình. Sau đây bài viết sẽ đưa ra hai phương diện chính của vấn đề “Tri Ân và Báo Ân”để tất cả con người chúng ta có thể tự mình suy nghĩ và làm theo cho phải đạo của một người con đối với cha mẹ mình. Phương diện thứ nhất, là người con dốc hết sức lực với khả năng của mình và tấm lòng kính trọng với Cha Mẹ bằng những việc làm thiết thực, như giúp đỡ mọi công việc hàng ngày trong gia đình và chăm sóc rất cận thận và tận tình lúc Cha Mẹ ốm đau già yếu, từ việc ăn nói cho đến những cư xử của một người con đối với Cha Mẹ luôn tránh những sự hiểu lầm đáng tiếc xảy ra. Phương diện thứ hai của việc báo hiếu, đó là làm thế nào để thực hiện một tâm linh cho Cha và Mẹ, nghĩa là nếu như song thân của mình đang sống khỏe mạnh nhưng lại chưa biết quy hướng về đâu thì mình là người chủ động tạo điều kiện bằng khả năng hiểu biết của mình để Cha Mẹ có được cơ hội tiếp xúc và quay về nương tựa với ánh sáng Từ Bi Trí Tuệ của đức Phật, đó là giúp cha mẹ của mình quy y Tam Bảo. Vì Tam Bảo là nơi quay về nương tựa vững chắc nhất của tâm hồn con người, chỉ có như vậy mới đem lại những niềm vui chân thật trong lòng người cha mẹ, để mai kia mốt nọ Cha Mẹ có qua đời theo lẽ Vô thường hợp tan lìa xa chúng ta đi nữa cũng có đủ phước đức và năng lực được trợ duyên từ đức Phật mà sớm sanh về miền lạc cảnh. Chúng ta cũng được yên tâm với tất cả những thiện nghiệp mà lúc Cha Mẹ mình khi còn sống đã làm. Một sự kết nối của huyết thống có đạo đức và có trật tự ở hai mặt vật chất và tâm linh con người. Chỉ có phút giây Chánh Niệm của những người con hiếu thảo với cha mẹ mình, như vậy mới đem lại một năng lượng hạnh phúc cho tất cả những tâm hồn đang đối diện với cái nắng oi bức của mùa Hạ cũng  như được tưới tẩm những hạt nước cam lồ từ bi và chứa đựng sự yêu thương vô tận.
    Viên Ý Phổ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét